Xuất xưởng 03 Bồn Composite FRP HT XLNT BỆNH VIỆN Q = 40 m3/ ngày đêm
Modul Bồn Composite FRP HT XLNT Chung cư cao cấp Tỉnh Đăk Nông Q= 150 m3/ ngày đêm
Modul Bồn FRP Composite Dự án HT XLNT Bệnh Viện Phụ Sản Hưng Yên . Q = 300 m3/ ngày đêm
Thi công lắp đặt Bồn Composite FRP HT XLNT Dự án ALUMIN Q = 200 m3/ngày đêm
Mặt bằng hoàn thiện HT XLNT Resort 5 sao Q= 250 m3/ngày đêm
Công trường thi công lắp đặt Bồn FRP XLNT
Hoàn thành lắp đặt đưa vào sử dụng Bồn FRP XLNT Q = 300m3/ Ngày đêm
Vận chuyển Bồn Composite
Lắp đặt Modul Bồn FRP
Lắp đặt Bồn Composite
Modul Bồn Composite FRP tại công trường
Vận chuyển modul bồn Composite
Bồn Composite FRP chuẩn bị xuất xưởng
Bể lắng hút bùn tự động
Bể hiếu khí tiếp xúc
Mặt bằng sau hoàn thiện
Bể MBBR
Model HDL- MV- NP
Model HDL- MR - NP
Model HDL- MS - NP
Model HDL- AA - NP
Model HDL- BB - NP
Bồn Jokaso tại nhà máy sản xuất
Xuất xưởng 06 Bồn Composite FRP dự án xử lý nước thải khu công nghiệp tỉnh Hòa Bình
TIN TỨC >> Khó khăn trong xử lý nước thải đô thị tại Việt Nam.
Khó khăn trong xử lý nước thải đô thị tại Việt Nam. Thứ ba, 10/11/2015, 09:02 GMT+7 | Xem: 1.029

 

       Hệ thống thoát nước (HTTN) tại các đô thị Việt Nam những năm 90 của thế kỷ trước chủ yếu được đầu tư xây dựng tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể, không đồng bộ. Nhưng những năm gần đây, nhằm cải thiện khâu thu gom, vận chuyển nước thải cũng như xử lý nước thải (XLNT) trước khi xả vào môi trường, mạng lưới thoát nước riêng bắt đầu được xây dựng ở một số đô thị mới hoặc ở phần đô thị được cải tạo, mở rộng như Đà Lạt, Buôn Mê Thuột.

Thực trạng quản lý nước thải đô thị

     Đến năm 2012, có 15 HTTN và XLNT đô thị quy mô tập trung đã được xây dựng ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng; 5 hệ thống khác xây dựng ở các đô thị cấp tỉnh với tổng công suất là 530 nghìn m3/ngđ. Hiện đã có thêm 15 nhà máy XLNT đã hoàn thành xây dựng và đưa vào hoạt động nâng tổng số lên 30 nhà máy tại các TP trên cả nước. 40 HTTN và XLNT đang trong quá trình thiết kế, thi công vẫn chủ yếu là HTTN chung. Song song với phát triển các HTTN, các giải pháp vệ sinh tại chỗ hay phân tán cũng được cải tiến và áp dụng rộng rãi ở các cấp đô thị.

     Tuy nhiên, những thách thức lớn đang đặt ra trong lĩnh vực thu gom và XLNT là 60% hộ gia đình đấu nối vào HTTN công cộng nhưng hầu hết nước thải được xả thẳng ra hệ thống tiêu thoát nước bề mặt, chỉ có 10% lượng nước thải được xử lý. Nguyên nhân, đa số các đô thị Việt Nam chưa có các nhà máy XLNT tập trung. Trong khi 90% hộ gia đình xả nước thải vào bể tự hoại, chỉ 4% lượng phân bùn được xử lý. Công tác thu gom nước thải cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở khâu đấu nối giữa các hộ thoát nước với HTTN và xử lý bùn cặn từ bể tự hoại.

Về công nghệ XLNT đô thị đang được áp dụng tại Việt Nam thì hiện nay, đại đa số các nhà máy XLNT đều sử dụng phương pháp sinh học với các công nghệ như công nghệ bùn hoạt tính, công nghệ sinh học, công nghệ hồ sinh học và xử lý cơ học.

Hạn chế trong công tác thiết kế, vận hành các nhà máy XLNT

     Một số vấn đề hạn chế trong công tác thiết kế, vận hành ở các nhà máy XLNT, đó là: Trong tính toán xác định công suất lựa chọn công nghệ XLNT, các đơn vị tư vấn, cơ quan quản lý nhà nước thiên về quy mô lớn, công nghệ hiện đại, tiêu chuẩn xả thải cao. Tâm lý này dẫn đến lãng phí và hiệu quả sử dụng thấp (như nhà máy XLNT Bắc Thăng Long).

     Bên cạnh đó, lưu lượng dùng để tính toán các công trình của nhà máy XLNT thường lớn hơn thực tế. Phần lớn các nhà máy XLNT công suất vừa và lớn hiện có đều không hoạt động hết công suất. Điều này dẫn đến giảm hiệu quả đầu tư, xuống cấp công trình, thiết bị do không được vận hành đúng kỹ thuật hoặc vận hành dưới công suất thiết kế… HTTN ở các đô thị Việt Nam chủ yếu là HTTN chung, nồng độ các chất bẩn trong nước thải đầu vào thường thấp, trong khi phần lớn các nhà máy XLNT đã xây dựng hoặc đang trong giai đoạn thiết kế thi công lại được tính toán để xử lý nước thải có nồng độ cao theo cách tiếp cận của các nước tiên tiến, nơi HTTN riêng phổ biến. Nhiều đơn vị tư vấn vẫn máy móc áp dụng các dây chuyền công nghệ theo kinh nghiệm của mình mà không chú ý đến các đặc thù của cách thu gom nước thải, đặc tính nước thải đô thị tại Việt Nam.

     Mặc dù còn là một quốc gia nghèo nhưng Việt Nam chưa thật sự chú ý đến những giải pháp XLNT có chi phí thấp. Khi nồng độ chất hữu cơ trong nước thải đầu vào các công trình xử lý thấp, lẽ ra có thể lựa chọn áp dụng các công nghệ xử lý chi phí thấp và cho phép nâng cấp cải tiến dần khi nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên. Các công trình có mức tiêu thụ năng lượng thấp, có khả năng thu hồi tài nguyên, năng lượng từ bùn hoặc tái sử dụng nước thải sau xử lý còn chưa được chú trọng, ưu tiên lựa chọn từ khâu quy hoạch ở Việt Nam.

    Những bất cập và khó khăn này cũng là dễ hiểu bởi trong lĩnh vực thoát nước và XLNT tại đô thị Việt Nam vẫn còn non trẻ. Bởi vậy, chúng ta rất cần tham khảo và học tập kinh nghiệm từ các nước tiên tiến, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong nước góp phần phát triển bền vững hệ thống thoát nước và nâng cao năng lực quản lý HTTN và XLNT tại Việt Nam.


CÁC TIN KHÁC
Lượt truy cập : 150.099